Suy Niệm Thứ Tư Tuần XIV Thường Niên A PDF Print E-mail
Tuesday, 11 July 2017 19:45

alt


Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Mátthêu (Mt 10: 1-7)

Khi ấy, Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ Người lại, và ban cho các ông quyền hành trên các thần ô uế để các ông xua đuổi chúng và chữa lành mọi bệnh hoạn, tật nguyền.Đây là tên của mười hai tông đồ: Trước hết là Simon cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê em của ông, Giacôbê con ông Giêbêđê và Gioan em của ông, Philipphê, Bartôlômêô, Tôma và Matthêô người thu thuế, Giacôbê con ông Alphê và Tađêô, Simon nhiệt tâm và Giuđa Iscariô là kẻ nộp Người. Chúa Giêsu đã sai mười hai vị này đi và truyền rằng: "Các con đừng đi về phía đường các dân ngoại, và đừng vào thành của người Samaria. Tốt hơn, các con hãy đến cùng các chiên lạc nhà Israel. Các con hãy đi rao giảng rằng: "Nước Trời đã gần đến".

SUY NIỆM

Trong sứ vụ đầu đời tông đồ, Chúa Giêsu muốn các ông ưu tiên cho những con chiên lạc chứ không phải cho dân ngoại. Điều này không có nghĩa lãng quên việc truyền giáo cho dân ngoại mà trong những chọn lựa của mình, trước hết, các ông cần phải lưu tâm đến những người bị lầm lạc đức tin. Đối với dân ngoại hay những người chưa nhận biết Chúa, Thiên Chúa có những người phù hợp để làm công việc của Ngài.

Mười hai tông đồ là mười hai công việc khác nhau, theo những khả năng được phú bẩm cho các ông, nhưng lại cùng chung một sứ vụ là thăng tiến niềm tin, hướng đến việc hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, quy tụ muôn người về một mối. Các ông mang trong mình lời dặn dò và hình ảnh chân thực của Thầy mình hơn nữa, các ông được mời gọi loan truyền tình thương và lòng thương xót cho thế giới. Chữa lành thể lý để đưa người ta đến sự thật niềm tin vào Thiên Chúa. Làm sao điều cốt yếu được thực hiện và thấm nhuần cách chính xác: “Nước Trời đã gần đến”. Nước Trời ở đây được hiện thực hoá nơi chính việc các ông làm cho người khác có khả năng đón nhận niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất.

Trong thần thoại Hy Lạp có đề cập đến ánh sáng của các thần chính là người ta trở nên các vị thần. Vì thế, Thiên Chúa là Nước Trời với con người tin vào Ngài; còn nếu không rõ điều này, chúng ta dễ bị lạc vào tình trạng mù mờ về niềm tin mà không biết những nỗ lực và hy sinh để cuối cùng được những gì? Nếu chỉ là ở đời này, người ta có cần làm sống làm chết đến mức quên ăn, quên ngủ không? Nếu không vì hạnh phúc đời sau, mắc chi đời này phải cực đến vậy? Có nhiều người làm cả đời chưa kịp hưởng thành quả do mình làm ra đã phải nhắm mắt xuôi tay. Thử hỏi, của cải, danh vọng, quyền bính đó có ý nghĩa gì, có mang lại bình an, có giúp giải phóng khỏi những sự tù đày của lương tâm hay có mua được cái chết an lành không? Giàu có, quyền lực, danh vọng nhiều thì nguy cơ đối diện với những bấp bênh nhiều hơn!

Không thể phủ nhận của cải, danh vọng, quyền thế luôn là thước đo sự thành công của cuốc sống, nhưng cái thành công nhất vẫn là tất cả phục vụ cho hạnh phúc viên mãn của chúng ta. Nếu làm được vậy, ắt hẳn sự giàu có sẽ là món quà quý giá vì nó mang đến cơ hội thuận lợi giúp chúng ta đến gần Chúa và anh chị em.

Ước chi người có của đời này như thế nào thì cùng có của đời sau như vậy!

GKGĐ Giáo Phận Phú Cường

alt
Tin Mừng Mt 10: 1-7

Trang Tin Mừng hôm nay cho ta thấy điểm nhấn của Thánh sử Matthêu về các tông đồ, là thi hành sứ vụ, chứ không phải là được Chúa Giêsu kêu gọi. Thánh Matthêu đề cao mối liên lạc mật thiết giữa tông đồ đoàn và sứ mạng truyền giáo. Họ là những chứng nhân tiêu biểu đã được Chúa Giêsu huấn luyện, trao quyền hành và trao nhiệm vụ truyền giáo như chính Ngài đã được Chúa Cha sai đi vậy.

Chúa Giêsu nói: “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. Lời Chúa Giêsu mạc khải cho chúng ta biết thời gian cứu độ con người đã đến. Công việc phải làm là thu vào kho lẫm Nước Thiên Chúa những người được ơn cứu độ. Nhưng thực hiện công việc này cần có thợ gặt. Theo lời Chúa Giêsu nói, Ngài muốn dạy cho chúng ta biết, số linh hồn sẵn sàng đón nhận ơn cứu độ thì nhiều, nhưng số người đi truyền giáo, số người rao giảng Tin Mừng cứu độ thì ít, không đủ để mang ơn cứu độ đến cho các linh hồn ở khắp nơi. Chúa Giêsu thì không tự mình làm hết mọi sự, nên Ngài mời gọi chúng ta xin Chúa Cha, là Đấng có sáng kiến cứu độ nhân loại, trợ giúp thêm thợ gặt để thực hiện công việc của Chúa Cha.

Chúa Giêsu triệu tập nhóm mười hai trong số bảy hai môn đệ và tấn phong các ông ấy làm tông đồ, Ngài ban cho họ quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ diệt chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

“Rồi Đức Giêsu gọi 12 môn đệ lại” : Đây là bài sai cho nhóm 12, một nhóm thân tín, cận kề với Chúa Giêsu ngay từ giây phút ban đầu. Con số 12 là con số hoàn hảo. Ngụ ý của thánh sử muốn nói: Chúa Giêsu mời gọi mọi người, đại diện là 12 chi tộc Ísrael, ra đi loan báo Tin Mừng. Đức Giêsu gọi họ lại để làm gì? Để ban quyền trên các thần dữ và chữa lành các bệnh tật” (c.1). Vậy đã rõ về nhân sự và sứ vụ phải thực hiện: chữa lành cả về tinh thần lẫn thể xác. Quyền năng này chỉ có nơi Thiên Chúa qua Đức Giêsu Kitô.

Họ sẽ trở nên những nhà thiết lập dân Israel mới, và tham dự vào quyền năng  cứu độ của Đức Giêsu. Họ là những người được Đấng phục Sinh chính thức sai đi, chuẩn bị cho sứ vụ hoàn vũ sau biến cố vượt qua. Đức Giêsu, Đấng được Cha sai đi, bây giờ Ngài lại sai các tông đồ đi, tức là Ngài thi hành đặc quyền của Thiên Chúa. Chúa Giêsu căn dặn các tông đồ: “Anh em đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào các thành nào của dân Samari. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel”.

Từ câu 2 đến câu 4, thánh sử Matthêu kể tên 12 vị được sai đi. Đứng đầu và trước tiên là Simon và thánh sử còn viết cả tên mà Chúa Giêsu đã đổi cho vị Tông đồ này: Phêrô. Thánh sử còn giải thích những chi tiết đặc biệt của từng vị, ngay cả khi không ngần ngại nêu rõ nghề nghiệp của bản thân khi được Chúa Giêsu mời gọi “Matthêu, người thu thuế” hoặc “ Simon thuộc nhóm quá khích” và “Giuđa Ítcariốt, kẻ phản bội “và nộp Chúa Giêsu”.

Qua việc kể lễ dài dòng chi tiết này, thánh sử muốn nêu bật tính Tông đồ đoàn với sứ mệnh rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Như thế truyền giáo là sứ mệnh của Giáo Hội. Con số 12 tượng trưng cho sự trọn vẹn của Giáo Hội và cũng nói lên sự liên tục giữa Giáo Hội Chúa Kitô và dân Ísrael xưa: như Israel xuất phát từ 12 chi tộc, thì Giáo Hội ngày nay cũng được đặt trên nền móng 12 Tông đồ, mà việc đá góc là chính Chúa Kitô.

Các môn đệ được sai đi giảng những gì? Giảng cho hạng người nào? Đức Giêsu căn dặn họ kỹ lưỡng, mục tiêu mà họ cần nhắm đến không phải là dân Samari, hoặc những người mà chúng ta tạm gọi là “dân ngoại” (vì họ không phải là người Do Thái, là những người chịu phép cắt bì theo luật Môsê…) Chúng ta sẽ thấy đối tượng mà Chúa Giêsu sai các tông đồ đến và Ngài ra chỉ thị như sau: “Tốt hơn hãy đến với các con chiên lạc nhà Ísrael” (c.6). Nghe câu này chúng ta thấy có vẻ như Chúa Giêsu thiên vị dân tộc Do Thái, dân tộc của Ngài. Nhưng khi giới thiệu về lãnh vực hoạt động của các Tông đồ, thánh sử muốn nói lên quyền ưu tiên cho người Israel, là những kẻ được mời gọi trực tiếp hưởng nhờ ơn cứu độ của Đấng Mêsia.

Chúa Giêsu muốn vào lúc khởi đầu của sứ vụ, các tông đồ phải quan tâm trước tiên đến các chiên lạc nhà Israel, sứ vụ ưu tiên cho dân Israel, chứ không phải là một sự dè dặt đối với dân ngoại. Sứ vụ ở vùng dân ngoại được tiên báo bởi vài hành vi cử chỉ của Chúa Giêsu sẽ đến sau này.

Việc Chúa Giêsu và các tông đồ trừ quỷ và chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền là những hành vi cứu độ, là những phép lạ nói lên Nước trời được hiện tại hóa, và tỏ bày lòng yêu thương của Chúa Cha đối với nhân loại, một tình yêu bao la vô điều kiện, qua việc phục vụ của các tông đồ cách quảng đại nhưng không, vì các ông lãnh nhận nhưng không thì cũng cho đi nhưng không, như Chúa Giêsu đã dạy dỗ, huấn luyện và làm gương cho họ.

Các tông đồ tuy khác nhau về nhiều phương diện, nhưng các Ngài vẫn hợp tác thi hành một sứ mạng là rao giảng Nước Thiên Chúa. Chúa Giêsu thiết lập nhóm mười hai rất ô hợp, nhưng Chúa vẫn nhắm tới việc họ phải làm chứng bằng chính đời sống của họ: họ làm chứng về tình thương của Chúa đối với họ, gọi họ khi họ hoàn toàn bất xứng; họ làm chứng về sức đổi mới của ơn Chúa, họ là những con người đầy tự nhiên, nhưng được thấm nhuần tinh thần của nước trời; họ phải làm chứng về sự hiệp nhất, tuy họ rất khác biệt nhau, nhưng họ vẫn keo sơn gắn bó với nhau; họ làm chứng về quyền năng và vai trò chủ động của Thiên Chúa, họ không làm được bao nhiêu, chính Thiên Chúa làm tất cả nơi họ trong công trình cứu độ.

Học hỏi gương các tông đồ và theo lời Chúa Giêsu dạy, khi làm tông đồ chúng ta phải đề cao tính cách cộng đoàn bằng đời sống liên đới, tương trợ và hiệp thông với nhau. Người tông đồ phải đề cao sứ mạng truyền giáo bằng cách nhiệt tình, mau mắn và vị tha trong mọi công tác tông đồ truyền giáo.

Các tông đồ được chọn không phải vì các ngài có tấm lòng và thiện chí như tiêu chuẩn của Chúa, nhưng vì Thiên Chúa yêu thương họ trước cả khi họ biết Chúa. Các tông đồ được Chúa chọn cũng không phải vì các ông có quả tim tinh tuyền như Chúa đòi hỏi, nhưng vì lòng nhân từ của Ngài mà Ngài hy vọng sẽ hướng dẫn, dạy dỗ họ, để họ đổi mới mà thành những chứng nhân tông đồ cho muôn dân.

Ta cũng tin tưởng vào ơn Chúa, Ngài sẽ ban cho ta khả năng như Ngài đã ban cho các tông đồ xưa, đặc biệt là qua bí tích và việc cử hành phụng vụ. Hơn nữa, chúng ta tin Chúa làm mọi sự trong chúng ta, khi Ngài chọn ta và sai chúng ta đi làm tông đồ truyền giáo, tiếp tục thi hành sứ vụ cứu độ của Ngài. Nhờ vậy ta luôn an tâm tự tin và hăng say không nghi ngờ, không do dự sợ hãi khi thấy mình yếu kém, dốt nát hèn hạ, nhưng luôn can đảm dấn thân trong sứ vụ, trong tinh thần tin tưởng phó thác.

Huệ Minh